Bài viết được trích từ chương 22 – Trí tuệ thẩm thấu – Maria Montessori
Ở Chương trước, chúng ta đã đề cập những khiếm khuyết nảy sinh sau khi sinh ra sẽ biến mất khỏi trẻ nếu chúng được nuôi dưỡng trong môi trường thích hợp trước 6 tuổi. Sự biến mất của những khiếm khuyết này không phải theo cách làm thông thường là triệt tiêu từng cái một; chúng đồng loạt biến mất đột ngột theo. cùng một cách khi sự hứng thú của đứa trẻ được tập trung vào hoạt động. Tất cả những trẻ được bình thường hóa cư xử theo cùng một cách, ấy là chúng tiếp tục làm việc tập trung, bình tĩnh và lặng lẽ. Điều này, vào thời điếm đó, là rất đáng ngạc nhiên, vì từ trước đến giờ, sự tập trung chưa từng thấy ở trẻ. Chúng cũng bộc lộ một đặc điểm đặc biệt không có ở người lớn và trước đó, chưa thấy ở trẻ em: chúng làm việc hết sức nỗ lực và tiếp tục công tiệc của mình cho tới khi hoàn thành một cách chính xác. Sự thành công của một công việc với độ chính xác cao là điều hiếm gặp ngay cả ở người trưởng thành, trẻ đã làm việc này tới giới hạn cực độ. Một khi đã hoàn thành công việc của mình một cách xuất sắc, chúng lặp lại việc đó rất nhiều lần và thường xuyên thực hiện những hành động lặp lại này nhiều đến nỗi chúng ta coi đó là bất thường. Chúng sẽ lau chùi một cái bình đồng hơn mười lần hoặc lặp lại bốn mươi lần và thậm chí cả hai trăm lần công, việc đó với chiếc khăn lau. Hiển nhiên, ta không dễ dàng nhận ra mục đích làm việc của trẻ, trẻ có một mục đích được tự nhiên chỉ đạo. Những hoạt động lặp đi lặp lại với sự tập trung này luôn có chung một đặc điểm: có sự gắn kết của bàn tay và khối óc. Chúng ta phải hình dung điều này và cố gắng thấu hiểu. Bọn trẻ đang xây dựng nhân cách của con người, chúng đang hoàn thiện những phấm chất nội tại mà chúng ta ngưỡng mộ ở một người có nhân cách: khả năng quyết định nhanh chóng, tính kiên trì trong công việc. Những phấm chất này không được phát triến tương ứng với việc thuyết giảng hay bắt phải học theo những tấm gương của chúng ta. Chúng ta phải nghiên cứu nhân cách từ một góc nhìn tích cực: nhân cách chỉ được hình thành qua quá trình rèn luyện từ năm này sang năm khác. Nó được hình thành trong giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi. Quá trình hình thành nhân cách được diễn ra tự nhiên. Ở khoảng giữa 0 và 3 tuổi, một số khả năng đã được phát triển (ví dụ như ngôn ngữ) vì thế sự sáng tạo và củng cố của nhân cách được hình thành dựa trên những chỉ dẫn của tự nhiên. Tất cả những đặc tính của trẻ từ 0 đến 3 tuổi được tạo ra nhờ tâm trí thấm hút vì thế, đứa trẻ tiếp thu ngôn ngữ khi được sống giữa mọi người… Nhưng từ 3 đến 6 tuổi, đứa trẻ tự kiến thiết và đứa trẻ kiến thiết nhân cách của mình theo lối tích cực. Sự kiến thiết nhân cách đi đôi với lao động vì vào lúc 6 tuổi thì sự kiến tạo các phẩm chất tinh thần và nhân cách đã được hình thành một cách cơ bản. Nếu để tâm đến điều này sẽ thấy, chúng ta không thế dạy các đức tính của nhân cách, mà chúng ta còn không được ngăn trở bọn trẻ được bình thường hóa từ 3 đến 6 tuổi khi đứa trẻ đang xây dựng nhân cách của mình. Nếu can thiệp một cách không cần thiết thì chúng ta đã tạo ra trở ngại vào quá trình xây dựng nhân cách. Việc giáo dục trẻ ở độ tuổi này vì thế không phải thuyết. Chỉ có một cách duy nhất có thể trợ giúp cho sự phát triển bộc phát của nhân cách, đó là phải chuẩn bị môi trường cho sự phát triển của trẻ, phải tôn trọng những hoạt động trí tuệ của trẻ và để chúng được tự do. Bắt trẻ học theo các tấm gương là một việc làm vô dụng. Vì chúng có thể đã làm tốt hơn tấm gương đó rồi. Trong trường hợp nào đi nữa thì thuyết giáo cũng là vô ích, chỉ giống như nước đổ lá khoai. Thậm chí, cả những bậc cha mẹ bình thường cũng hiểu được chút ít về điều này, đó là lý do tại sao họ đánh chúng vì họ biết có nói với chúng cũng chẳng ích lợi gì.
Những gì trẻ bộc lộ đã chỉ đường cho chúng ta đặt một phần của giáo dục trên nền tảng khoa học. Ở phân khúc tuổi sau này, ta có thể tiếp cận được tâm trí của đứa trẻ một cách trực tiếp và ta có thể can thiệp bằng việc thuyết giảng và cổ vũ. Chỉ sau sáu năm thì ta mới có thể trở thành một nhà truyền giáo đạo lý cho đứa trẻ; từ 6 đến 12 tuổi lương tâm trẻ bắt đầu thức tỉnh, thấy được vấn đề gì đúng và vấn đề gì sai. Vẫn còn nhiều thành tựu nữa có thể đạt được từ 12 đến 18 tuổi khi đứa trẻ bắt đầu cảm nhận được những ý niệm như lòng yêu nước và những khía cạnh xã hội của tôn giáo… Rồi chúng ta có thể trở thành nhà truyền giáo cho trẻ. Những hoạt động gây dựng đạo lý của việc truyền giáo luôn được thực hiện giữa những người trưởng thành, vì thế sẽ có rất nhiều thời gian cho những nỗ lực tuyên truyền của chúng ta. Vấn đề duy nhất là sau 6 tuổi, trẻ không thể tự phát triển những phẩm chất nhân cách một cách tự phát được nữa, và những nhà truyền giáo, bản thân cũng không hoàn hảo, gặp nhiều khó khăn, vì họ giống như đang cố gắng xử lý với khói chứ không phải với lửa. Những nhà giáo dục học than phiền rằng họ có thể dạy khoa học, văn học… nhưng những con người trẻ tuổi này chẳng có cá tính gì, và khi cá tính không tồn tại, lực đẩy của cuộc sống cũng sẽ không tồn tại. Chỉ ở những trẻ trước 6 tuổi, được trải nghiệm thực tế trong môi trường, có thể cứu vớt được một số hoặc tất cả những đặc tính này, mới tồn tại cá tính. Sai lầm nằm ở chỗ trước 6 tuổi, chúng ta đã không cho chúng cơ hội để xây dựng nhân cách của chính bản thân chúng qua những quy luật vận động của tự nhiên, mà luôn bị chúng ta can thiệp. Giờ chúng ta không thể bắt những người trẻ này tập trung nếu chúng thiếu khả năng tập trung. Nếu chúng ta bảo chúng phải kiên trì với công việc của mình và thực hiện nó một cách chính xác, thì làm sao chúng làm được việc đó nếu không có khả năng? Cứ như là ai đó nói “Hãy bước đi” trong khi chúng ta không có chân vậy. Những khả năng này chỉ có thể đạt được bởi luyện tập chứ không phải bởi mệnh lệnh. Tôi không thể chơi đàn dương cầm hay đàn Veena bốn dây của Ấn Độ dù có bị bắt ép hoặc dù tôi có muốn đi chăng, nữa, vì tôi không có khả năng; cơ hội đó đã bị mất đi rồi. Rất nhiều thứ đã bị tước khỏi đứa trẻ trong giai đoạn sáng tạo này (0 đến 6 tuổi) không bao giờ có thể được tái tạo nữa. Chúng ta khi ấy làm được gì? Xã hội thường hay nói: “Hãy kiên nhẫn với người trẻ, chúng ta chỉ có thể cố giúp chúng với những ý định và tấm gương tốt đẹp của chúng ta mà thôi”, chúng ta nghĩ rằng, bằng sự kiên nhẫn và qua thời gian thì chúng ta sẽ đạt được một cái gì đó. Chúng ta chẳng đạt được cái gì hết. Chẳng có gì có thể đạt được chỉ với thời gian và lòng kiên trì hết; nếu ta không tận dụng cơ hội của giai đoạn sáng tạo khi chúng xuất hiện, ta sẽ vĩnh viễn phải chờ đợi trong vô vọng.
Tại hình 14 chúng ta thấy ở chính giữa có một vòng tròn, trung tâm của sự hoàn thiện, xung quanh nó là một vòng biểu thị nhóm người bình thường thuộc dạng khỏe mạnh hơn. Vòng tròn tiếp theo biểu thị đám đông quần chúng không được phát triển đầy đủ ở nhiều phương diện. Vòng tròn ngoài cùng biểu hoặc chống đối xã hội (những người ngoài lề xã hội là những kẻ điên rồ còn những kẻ chống đối xã hội là những tên tội phạm). Những tên tội phạm và những kẻ điên đã không thể hòa nhập vào xã hội; tất cả những người khác đã có thể tự hòa nhập ở mức độ ít hay nhiều. Vì thế, vấn đề của giáo dục dành cho tất cả những người có thể tự hòa nhập ở một mức độ nào đó.
Quá trình hòa nhập vào môi trường là nhiệm vụ của đứa trẻ cách mới thật là một vấn đề lớn lao làm sao, tìm kiếm hay không tìm kiếm cách thích nghi dễ dàng! Có những người ít hay nhiều đã tự thích nghi một cách hoàn hảo, họ ít nhiều đáp ứng được những nhu cầu của xã hội, họ là những người được biểu diễn ở vòng tròn thứ hai (từ ngoài vào). Những người ở vòng tròn thứ ba (từ ngoài vào) là gần tới sự hoàn hảo, mạnh mẽ vì họ có một nguồn sinh lực lớn hơn hoặc tìm được một môi trường tốt hơn, trong khi những người khác có nguồn sinh lực kém hơn hoặc phải gặp nhiều chướng ngại. Trong xã hội, những người ở trong vòng tròn thứ ba (từ ngoài vào) được coi là có tính cách mạnh mẽ hơn và những người khác bị cho là có tính cách yếu đuối. Những người thuộc vòng tròn thứ ba có sự hấp dẫn tự nhiên đối với sự hoàn hảo thể hiện ở trung tâm, trong khi những người thuộc vòng tròn thứ hai cảm thấy bị thu hút bởi những gì ở tận cùng giới hạn, vòng ngoài cùng. Thế là có một nhóm người bị hấp dẫn và tuột đần xuống dưới, vành đai chống đối và ngoài rìa xã hội, như thể họ gặp khó khăn trong việc trèo lên và bị tuột xuống. Họ gặp phải rất nhiều cám dỗ và nếu họ không liên tục nỗ lực, họ sẽ tuột xuống; họ cảm thấy mình ngày càng trở nên yếu kém. Chúng ta phải giúp đỡ họ về mặt tỉnh thần để không bị rơi vào cám dỗ. Đây không phải sự cám dỗ của khoái lạc, vì chẳng ai thích tuột xuống tội ác và điên loạn hết; dường như nó giống như lực hấp dẫn không thế cưỡng lại của trọng lực và bắt ta phải liên tục đấu tranh chống lại nó. Chính nỗ lực kháng cự lại xu hướng tuột xuống này được coi là một đức tính. Đức hạnh, trên thực tế, ngăn cản chúng ta rơi xuống hố sâu đạo lý. Những. người như thế được khuyên răn phải cẩn thận để không sa ngã và họ luôn cảm thấy ăn năn; họ sẽ đặt một quy tắc lên cuộc sống của mình để tránh bị sa ngã; họ sẽ gắn bó với một ai đó tốt đẹp. hơn mình; họ sẽ cầu nguyện Chúa Vạn Năng để giúp họ tránh khỏi cám đỗ. Càng lúc họ càng được bảo bọc trong đức hạnh, nhưng đó là một cuộc sống vô cùng khó khăn. Sự ăn năn không. phải một niềm vui trong cuộc sống; nó là một nỗ lực trèo lên một ngọn núi và bám lấy một mẩu đá chìa ra nào đó để không bị ngã xuống vực. Tuổi trẻ cảm nhận được lực hấp dẫn trọng lực này và chính những nhà giáo dục học phải là người cố gắng giúp đỡ họ. bằng các tấm gương và lời động viên khuyên nhủ. Họ trở thành những tấm gương, dù thỉnh thoảng họ cũng cảm nhận được sự cám đỗ chẳng kém gì đứa trẻ. Biết bao lần họ đã nói rằng: “Mình phải trở thành một hình mẫu để cho học sinh của mình noi theo!” Cả học sinh và nhà giáo dục học nằm trong nhóm những người đức hạnh ~ vòng tròn thứ hai (từ ngoài vào); đây là môi trường. của nền giáo dục nhân cách và đạo đức. Nó đã được chấp nhận là phương án giáo dục duy nhất. Vì thế, đại bộ phận loài người nằm trong vòng tròn thứ hai và nhân loại thường coi rằng đây là con người đích thực, kẻ luôn trong thế phòng thủ.
Trong vòng tròn thứ ba (từ ngoài vào) là những người mạnh mẽ hơn với niềm đam mê sự hoàn hảo. Chẳng có lực hấp dẫn trọng lực nào, chỉ có một sức hút thực sự kéo họ tới sự hoàn hảo. Điều này thường là niềm khát khao mà không cần khả năng trở thành hoàn hảo thực sự, nhưng trong bất cứ trường hợp nào họ cũng đi về phía hoàn hảo một cách tự nhiên và gần như không mất công sức. Họ không trở thành kẻ trộm vì sợ cảnh sát hay những người phải nỗ lực tránh cảm giác thích chiếm hữu; họ không phải những người bị hướng tới hành vi bạo lực, nhưng kháng cự lại nó bằng phẩm hạnh; họ không bị cám dỗ bởi những vật sở hữu của những người xung quanh mình và họ cũng không thô bạo. Họ chỉ cảm nhận được một sự cuốn hút duy nhất, đó là trung tâm của sự hoàn hảo và họ cảm nhận được điều đó vì nó đã trở thành một phẩm chất của cuộc đời họ. Họ không cần đức hạnh ở hình thái như thế nữa, vì họ ít bị cám dỗ bởi lực hấp dẫn về phía sự không hoàn hảo. Họ ghét sự không hoàn hảo. Khi họ đi tới trung tâm của sự hoàn mĩ thì họ không coi đó là một sự hy sinh, mà là mơ ước cháy bỏng nhất của mình; họ muốn đi.
Chúng ta hãy thử làm một so sánh vật lý và xét vấn đề của người ăn chay và người không ăn chay. Rất nhiều những người ăn thịt, đã kiêng ăn thịt vào một số ngày nhất định trong tuần, và vào lễ Lent’ thì họ nhịn ăn trong vòng 40 ngày, điều đó có nghĩa là họ không ăn thịt và một số thứ khác nữa. Nó thường là một chuỗi ngày dài đặc, chán chường đối với họ và họ cảm thấy mình thật đức hạnh. Sau giai đoạn này là đến chuỗi ngày ăn bù và có lẽ họ đã ngấu nghiến ăn tất cả các thể loại thịt. Trong suốt lễ Lent,, họ đã bị cám đỗ và nói rằng: “Ôi Chúa ơi, hãy cứu rỗi con!“ Đây là những người đức hạnh mà tuân theo những quy tắc. Họ trong sạch. Nhưng ở vòng tròn thứ ba (từ ngoài vào) thì có những người thực sự đáng nể, những người ăn chay, họ không bị cám dỗ phải ăn thịt; họ tránh nó. Chẳng có ích gì nếu cho một nhà truyền giáo về việc không ăn thịt tới chỗ những người ăn chay; họ tuân theo quy tắc không ăn thịt còn tốt hơn người ăn chay.
Chúng ta hãy đến với một ví dụ khác: những người có thể chất khỏe và những người có thể chất yếu (ví dụ như một người mắc bệnh viêm cuống phổi). Người thứ hai cần phải bảo vệ phổi của mình bằng nhiều lớp quần áo và khăn choàng len ấm áp; có lẽ anh ta cũng cần tắm nước ấm và xoa bóp để dễ lưu thông máu nữa. Những người này nhìn thì có vẻ là những người bình thường, họ không ở trong bệnh viện, mà tự chăm sóc bản thân. Hoặc có thể hệ tiêu hóa của họ không được tốt và họ phải ăn theo chế độ đặc biệt để giữ sức khỏe. Tất cả những người này cứ sống giữa những người bình thường, nhưng rất chú ý đến chế độ sinh hoạt, họ luôn sợ nhắc đến bệnh viện và cái chết. Còn những, người có sức khỏe, họ ăn thứ họ muốn và họ không quan tâm gì đến quy tắc luật lệ. Họ đi ra ngoài khi trời lạnh vì họ thích thế, và họ nhảy xuống dòng sông lạnh giá để bơi khi những người khác hầu như không dám bước ra khỏi cửa. Những nhà thám hiểm bắc cực coi việc thám hiểm là niềm vui; họ không quan tâm đến những khó khăn. Đức hạnh của những người nằm trong vòng tròn thứ hai (từ ngoài vào) cần có các bậc thánh nhân, người vĩ đại cùng những người thầy tinh thần thuộc đủ các thể loại trợ giúp, nếu không thì tất cả sẽ rơi xuống vực thẳm hoặc hố sâu của sự cám dỗ. Nhưng những người trong vòng tròn tiếp theo không cần những trợ giúp này và họ có được những niềm vui mà những người khác không thể nào mơ tới được.
Chúng ta hãy đi vào vòng tròn của sự siêu việt trong nỗ lực đặt nhân cách trên nền tảng thực tế. Sự siêu việt là gì? Có phải nó là để đạt được mọi đức hạnh ở cấp độ cao nhất, và để đạt được cái gì? Tại đây, chúng ta cũng phải đặt thứ gì đó có thể xảy ra và mang tính thực tế. Nói nhân cách là chúng tôi muốn nói tới hành vi của con người, thứ được thôi thúc (dù ở rất nhiều người chỉ là trong tiềm thức) để tiến tới sự tiến bộ. Đây là xu hướng chung: nhân loại và xã hội phải tiến về trước trong công cuộc tiến hóa. Một số người cảm thấy say mê với Chúa, nhưng tại thời điểm này chúng ta hãy xét một trung tâm hoàn hảo đơn thuần của con người, thứ là sự tiến bộ của loài người. Một cá nhân thực hiện một khám phá và xã hội phát triển theo chiều hướng ấy. Trong lĩnh vực tinh thần cũng vậy, một cá nhân đạt đến trình độ nào đó và tạo lực đẩy cho xã hội. Tất cả những gì chúng ta biết, xét theo khía cạnh tinh thần, và tất cả những gì chúng ta nhìn thấy, xét theo khía cạnh vật chất, là thành tựu của cá nhân nào đó. Nếu chúng ta nghiên cứu địa lý hoặc lịch sử thì chúng ta sẽ thấy có sự phát triển liên tục, từ thời này qua thời khác, con người đặt một dấu chấm vào vòng tròn trung tâm của sự hoàn hảo. Đây là một lực cuốn hút cho những người trong vòng tròn gần đó, những người tin vào bản thân và cũng là những người không cần đến luật lệ hay cảm giác ăn năn. Họ không phải dành sức lực ra để chống lại sự cám dỗ, thế nên họ có thể sử dụng chính nguồn năng lượng ấy để đạt được những thứ là bất khả đối với những người phải nỗ lực để giữ mình khỏi những cám dỗ. Đô đốc Byrd của Hoa Kỳ chỉ biết lao vào kiếm tiền để làm gì? Để ông khám phá Nam Cực và ném mình vào giữa những khốn khó của một cuộc thám hiểm vùng cực. Ông ta không cảm thấy chút khó nhọc nào, ông ta cảm thấy sự cuốn hút của vòng tròn siêu việt, của việc đạt được thứ gì đó mà từ trước giờ chưa đạt được.
Trong kết luận này chúng ta có thể nói rằng tính cách đa dạng của những người nằm trong vòng tròn thứ hai (từ ngoài vào) và nghèo nàn của những người nằm trong vòng tròn thứ ba (từ ngoài vào). Có quá nhiều người cần đến chỗ dựa để giúp họ tránh khỏi cám dỗ; và nếu giáo dục cũng theo hướng này thì con người sẽ bị kìm kẹp không phát triển được.
Thử tưởng tượng một nhà truyền giáo từ vùng vòng tròn thứ hai từ ngoài vào đi tới bọn trẻ ở vùng vòng tròn tiếp theo và khuyên chúng không ăn thịt nếu không chúng sẽ sa ngã. Bọn trẻ đó sẽ nói “Cháu không thể sa ngã được, cháu chẳng thấy hứng thú gì với thịt hết” Hoặc nếu một nhà truyền giáo khác nói: “Cháu phải mặc ấm vào nếu không cháu sẽ bị cảm lạnh đấy.” Đứa trẻ sẽ đáp rằng: “Cháu không cần phải mặc ấm, cháu chẳng sợ lạnh đâu.” Chúng ta cần nhận thức được rằng xu hướng của giáo dục là muốn cung cấp những giáo viên từ vòng tròn thứ 2 (từ ngoài vào), có xu hướng đẩy mọi trẻ em xuống cấp độ này (dù chỉ để gặp sự kháng cự của trẻ) chứ không hướng lên và nhắm vào trung tâm của sự hoàn thiện. Nếu chúng ta nhìn vào tất cả những chương trình giáo dục, chúng ta thấy những thông tin được đưa ra ít ỏi, và khô khan thế nào. Điều này khiến nền giáo dục tạo ra những con người có mặc cảm tự ti và yếu đuối. Các chương trình giáo dục đặt ra giới hạn cho tri thức và giới hạn đó lại dưới tầm của con người. Giáo dục cho con người những cái nạng trong khi họ có đôi chân khỏe mạnh dùng để chạy. Đó là một rền giáo dục sai lầm dựa trên những phẩm chất yếu kém của con người chứ không phải trên những phẩm chất siêu việt của họ. Nền giáo dục không đúng mục tiêu khiến con người ngày nay là một tổ hợp những cá nhân thấp kém. Những cá nhân đã không xây dựng nhân cách của mình trước lúc 6 tuổi. Chúng ta phải cố gắng và tái kiến thiết cấp độ thực sự, cố cho phép đứa trẻ được sử dụng những khả năng sáng tạo của mình; có lẽ vùng vòng tròn thứ ba (từ ngoài vào) không phải thuộc về sự hoàn hảo kia, mà thuộc về lực hấp dẫn tới sự hoàn hảo, không phải tới việc phòng thủ, mà tới việc chỉnh phục, sẽ xâm lấn toàn bộ vùng vòng tròn thứ hai (từ ngoài vào), Nếu chỉ có duy nhất một thời kỳ trong cuộc đời con người khi anh ta có thể xây dựng bản thân về khía cạnh tinh thần, và sự xây dựng khi đó lại không được diễn ra hoặc lại diễn ra một cách tồi tệ do phải chịu một môi trường sai lầm, thì chúng ta đã tự tạo cho mình một tập hợp những cá thể kém phát triển. Tuy thế, nếu như, chúng ta cho phép nhân cách được phát triển thuận theo tự nhiên và tạo cơ hội cho hoạt động mang tính xây dựng, chứ không chỉ khuyến khích cổ vũ, thì thế giới sẽ phải cần một phương thức giáo dục khác.
Bỏ đi những giới hạn giả tạo và đặt trước mặt nhân loại những điều vĩ đại cần được đạt tới. Tôi có thể đọc tất cả những câu chuyện lịch sử và những bài giáo lý và vẫn cứ là một kẻ ngốc, nhưng cho tôi phương tiện có thể dẫn tới những nỗ lực to lớn thì kết quả sẽ khác. Ta phải níu lấy thứ gì đó có thể gây ra phản ứng trong nội tại để thực hiện điều này. Những phẩm chất ta có thể khuyến khích là những phẩm chất mang tính sáng tạo được xây dựng trong giai đoạn mang tính sáng tạo, và nếu chúng ta không cho trẻ được tự kiến thiết bản thân vào lúc đó thì sau này những phẩm chất kia sẽ không còn nữa, và thuyết giáo với lại nêu gương sẽ chỉ là vô dụng.
Đây là sự khác biệt giữa phương thức giáo dục cổ điển và hiện đại: chúng ta mong muốn được trợ giúp cho công cuộc kiến thiết con người của chính bản thân anh ta ở thời điểm thích hợp, được giúp đỡ tất cả những khả năng có thể để đạt đến một nhân cách hoàn chỉnh. Xã hội đã xây dựng những bức tường và rào cản, chúng ta phải pháhủy chúng và chỉcho trẻ thấy đường chân trời. Phương pháp giáo dục mới là một cuộc cách mạng, nhưng là cuộc cách mạng phi bạo lực.

